Lịch sử logic

Lịch sử của logic , lịch sử của ngành học từ nguồn gốc của nó trong người Hy Lạp cổ đại cho đến thời điểm hiện tại.

Nhà lý luận chính trị người Đức Karl Marx;  chủ nghĩa cộng sảnCâu đố Nghiên cứu Lịch sử: Ai, Cái gì, Ở đâu và Khi nào? Văn phòng thám tử đầu tiên trên thế giới được thành lập khi nào?

Nguồn gốc của logic ở phương Tây

Tiền thân của logic cổ đại

Có một truyền thống thời trung cổ mà theo đó, nhà triết học Hy Lạp Parmenides (thế kỷ thứ 5 trước công nguyên) đã phát minh ra logic khi sống trên một tảng đá ở Ai Cập. Câu chuyện chỉ là truyền thuyết thuần túy, nhưng nó phản ánh sự thật rằng Parmenides là nhà triết học đầu tiên sử dụng một lập luận mở rộng cho quan điểm của mình thay vì chỉ đề xuất một tầm nhìn về thực tế. Nhưng sử dụng các lập luận không giống như nghiên cứu chúng, và Parmenides không bao giờ xây dựng hoặc nghiên cứu một cách có hệ thống các nguyên tắc lập luận theo đúng nghĩa của họ. Thật vậy, không có bằng chứng nào cho thấy ông thậm chí còn nhận thức được các quy tắc suy luận ngầm được sử dụng trong việc trình bày học thuyết của mình.

Có lẽ việc sử dụng lập luận của Parmenides được lấy cảm hứng từ việc thực hành toán học Hy Lạp thời kỳ đầu của những người Pythagore. Vì vậy, điều quan trọng là Parmenides được cho là đã có một giáo viên Pythagore. Nhưng lịch sử của thuyết Pythagore trong thời kỳ đầu này bị bao phủ trong bí ẩn, và khó có thể tách rời thực tế khỏi truyền thuyết.

Nếu Parmenides không nhận thức được các quy tắc chung cơ bản cho các lập luận của mình, thì điều tương tự có lẽ không đúng với đệ tử Zeno của Elea (thế kỷ thứ 5). Zeno là tác giả của nhiều lập luận, được gọi chung là “Nghịch lý của Zeno”, nhằm mục đích suy ra những hậu quả không thể xảy ra từ một quan điểm không phải của Parmenide về sự vật và do đó để bác bỏ quan điểm đó và gián tiếp thiết lập quan điểm độc tài của Parmenides. Chiến lược hợp lý của việc xác lập một tuyên bố bằng cách chỉ ra rằng điều ngược lại của nó dẫn đến hậu quả vô lý được gọi là rút gọn quảng cáo vô lý. Thực tế là tất cả các lập luận của Zeno đều thuộc dạng này cho thấy rằng ông đã nhận ra và phản ánh trên khuôn mẫu chung.

Nghịch lý của Zeno, được minh họa bằng việc Achilles đang đua một con rùa.

Các tác giả khác cũng góp phần vào mối quan tâm ngày càng tăng của người Hy Lạp đối với suy luận và chứng minh. Các nhà hùng biện và ngụy biện thời kỳ đầu — ví dụ, Gorgias, Hippias, Prodicus, và Protagoras (tất cả từ thế kỷ thứ 5) —đã trau dồi nghệ thuật bảo vệ hoặc tấn công một luận điểm bằng biện luận. Mối quan tâm này đối với các kỹ thuật tranh luận đôi khi chỉ đơn thuần dẫn đến việc phô diễn các kỹ năng tranh luận bằng lời nói, cái mà Plato gọi là “sự thích thú”. Nhưng cũng đúng rằng các nhà ngụy biện đã có công trong việc đưa lập luận lên vị trí trung tâm mà nó trở nên độc nhất vô nhị trong tư tưởng Hy Lạp. Ví dụ, các nhà ngụy biện là một trong những người đầu tiên ở bất cứ đâu yêu cầu các tuyên bố đạo đức phải được chứng minh bằng lý do.

Một số lời dạy cụ thể của các nhà ngụy biện và nhà hùng biện có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử ban đầu của lôgic học. Ví dụ, Protagoras được cho là người đầu tiên phân biệt các loại câu khác nhau: câu hỏi, câu trả lời, lời cầu nguyện và lời huấn thị. Prodicus dường như đã khẳng định rằng không có hai từ nào có thể có nghĩa hoàn toàn giống nhau. Theo đó, ông đã dành nhiều sự quan tâm để phân biệt và xác định một cách cẩn thận ý nghĩa của các từ đồng nghĩa rõ ràng, bao gồm nhiều thuật ngữ đạo đức.

Socrates ( khoảng 470–399 bce) được cho là đã tham dự các bài giảng của Prodicus. Giống như Prodicus, ông theo đuổi các định nghĩa của mọi thứ, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức và giá trị. Những cuộc điều tra này, được tiến hành bằng phương pháp tranh luận và lập luận như được miêu tả trong các tác phẩm của Plato (428 / 427–348 / 347 bce), đã củng cố sự quan tâm của người Hy Lạp đối với lập luận và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cẩn thận và nghiêm ngặt trong việc sử dụng ngôn ngữ.

Plato tiếp tục công việc bắt đầu bởi các nhà ngụy biện và Socrates. Trong Người ngụy biện , ông đã phân biệt khẳng định với phủ định và phân biệt quan trọng giữa động từ và tên gọi (bao gồm cả danh từ và tính từ). Ông nhận xét rằng một câu hoàn chỉnh ( logo ) không thể chỉ bao gồm tên hoặc động từ mà cần có ít nhất một trong hai. Quan sát này chỉ ra rằng việc phân tích ngôn ngữ đã phát triển đến mức nghiên cứu cấu trúc bên trong của các phát biểu, bên cạnh mối quan hệ của tổng thể các phát biểu với nhau. Sự phát triển mới này sẽ được học trò của Plato là Aristotle (384–322 bce) nâng lên thành nghệ thuật cao.

Plato trò chuyện với học sinh của mình

Có những đoạn trong các tác phẩm của Plato, nơi ông gợi ý rằng thực hành lập luận dưới hình thức đối thoại ("biện chứng" của Platon) có một ý nghĩa lớn hơn ngoài việc thỉnh thoảng nó được sử dụng để điều tra một vấn đề cụ thể. Gợi ý là phép biện chứng là một khoa học theo đúng nghĩa của nó, hoặc có thể là một phương pháp chung để đi đến kết luận khoa học trong các lĩnh vực khác. Những nhận xét nhỏ nhặt nhưng không thuyết phục này cho thấy một mức độ tổng quát mới trong suy đoán của người Hy Lạp về lý luận.